Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2018

1225/QC-QY7A, Quy chế chấm công ABC

CỤC HẬU CẦN QUÂN KHU 7           CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 BỆNH VIỆN QUÂN Y 7A                     Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
        Số:        /QC-QY7A                       Thành phố Hồ Chí Minh, ngày     tháng     năm 2018

QUY CHẾ CHẤM CÔNG ABC
Phần I
MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG QUY CHẾ

Điều 1. Xác định cơ chế hoạt động của Bệnh viện
Bệnh viện quân y 7A là Bệnh viện hạng I, tuyến cuối của Quân khu 7. Được thành lập theo Quyết định số 136/QĐ-QP và 175 ngày 1 tháng 11 năm 1975 của Bộ Quốc phòng. Đóng quân tại số: 466, đường Nguyễn Trãi, Phường 8, Quận 5, TP Hồ Chí Minh.
Chức năng nhiệm vụ của đơn vị:
Khám và điều trị cho thương bệnh binh, đối tượng chính sách, đồng bào nghèo, dân tộc thiểu số, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập và thực hiện phòng chống thiên tai, bão lụt, dịch bệnh trên địa bàn Quân khu 7 theo phân cấp điều trị của Cục Quân y/Bộ Quốc phòng.
Các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế để nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ y – bác sỹ, phát triển khoa học kỹ thuật, chăm lo đời sống cho cán bộ - nhân viên, sửa chữa cơ sở hạ tầng, mua sắm, bảo trì thiết bị y tế… nhằm phục vụ thương bệnh binh ngày càng chất lượng, hiệu quả hơn.
Bệnh viện quân y 7A thuộc đơn vị hành chính sự nghiệp, hoạt động có thu theo Quyết định số 09/QĐHN-BQP ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Điều 2. Mục đích xây dựng quy chế chấm công
- Duy trì nghiêm nề nếp chính qui, các qui định của Bệnh viện, qui chế qui trình và chế độ chuyên môn.
- Làm cơ sở chi lao động trực tiếp, phúc lợi đời sống phù hợp theo qui chế chi tiêu nội bộ, đảm bảo nguyên tắc : “ có làm có hưởng, làm tốt hơn được hưởng tốt hơn”. Đảm bảo tính công bằng trong chi đời sống cho Cán bộ nhân viên.
- Đưa phong trào thi đua của Bệnh viện đi vào nề nếp, đảm bảo sự phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực của Bệnh viện
Điều 3. Nguyên tắc, đối tượng và phạm vi áp dụng
-     Căn cứ Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012.
-     Quy chế chấm công ABC do Giám đốc Bệnh viện ban hành sau khi tổ chức thảo luận rộng rãi công khai, dân chủ trong các khoa ban, các tổ chức quần chúng và đã được thông qua Đảng ủy Bệnh viện.
-     Nội dung quy chế để theo dõi, quản lý chấm công lao động đối với tất cả các cán bộ - nhân viên trong Bệnh viện.

Phần II
QUẢN LÝ CHẤM CÔNG LAO ĐỘNG
             Điều 4. Trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ - công nhân viên
             1. Tất cả Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng trong Bệnh viện làm việc đủ 5 ngày/tuần. Riêng người lao động theo thỏa thuận lao động phải thực hiện 6 ngày/tuần. Thời gian làm việc buổi sáng từ 7 giờ 00 đến 11 giờ 30, buổi chiều từ 13 giờ 00 đến 16 giờ 30 (căn cứ vào tính chất và nhiệm vụ của bệnh viện).
             2. Phải bảo đảm chấp hành và thực hiện nghiêm túc việc chấm công 02 (hai) lần hàng ngày cho giờ đến và giờ về thông qua máy chấm công. Số liệu chấm công sẽ được lưu trữ và tích hợp trên phần mền chấm công. Hàng tháng, tổ công nghệ thông tin Bệnh viện sẽ chiết xuất từ phần mềm chấm công để tổng hợp số liệu gửi về lãnh đạo của khoa/ban xác nhận và gửi về tổ chấm công của Bệnh viện.
             3. Trong trường hợp máy chấm công không thực hiện được do lỗi của máy chấm công (đầu đọc bị hỏng, mất điện…) thì báo ngay cho Tổ chấm công thuộc Ban Hành chính để tiến hành ghi nhận chấm công thực tế.
             4. Cán bộ - nhân viên có trách nhiệm theo dõi, lập, thu thập, chuyển các giấy tờ, văn bản ghi nhận ngày công, ngày nghỉ, chứng nhận của quân y nhân viên cho ngày nghỉ ốm hoặc các chứng từ khác để xác minh ngày công, ngày nghỉ.
             5. Không yêu cầu thực hiện chấm công qua máy đối với Giám đốc, Chính ủy các đồng chí Phó Giám đốc. Bác sỹ cố vấn chuyên môn và người lao động bán thời gian.
             6. Chỉ huy các khoa/ban chịu trách nhiệm trong việc phê duyệt, xác minh tính minh bạch theo yêu cầu công việc của cán bộ, nhân viên thuộc khoa/ban mình quản lý.
             7. Tổ chấm công có trách nhiệm theo dõi, ghi nhận, tổng hợp ngày công, hỗ trợ các chỉ huy khoa/ban kiểm tra trong quá trình phê duyệt các giấy tờ, văn bản liên quan đến việc chấm công.
             8. Tổ chấm công có trách nhiệm thông báo, giải thích các quy định của Nhà nước, của đơn vị liên quan đến việc chấm công, nghỉ phép, thai sản, ốm…. cho cán bộ - công nhân viên khi có thắc mắc.
             9. Các trường hợp nằm ngoài quy định sẽ trình Giám đốc xem xét, quyết định.
             Điều 5. Quản lý giờ giấc làm việc của cán bộ - công nhân viên
             1. Tổ chấm công sẽ căn cứ vào dữ liệu trên máy để thực hiện chấm công cũng như căn cứ cho việc theo dõi, quản lý việc tuân thủ quy định của Bệnh viện về giờ giấc làm việc của cán bộ - công nhân viên trong toàn Bệnh viện.
             2. Các trường hợp do phát sinh công việc đột xuất thì phải có giấy xác nhận ngày công do lãnh đạo khoa/ban ký duyệt (theo biểu mẫu BM-04/QLCC). Giấy xác nhận gửi về tổ chấm công, chậm nhất là ngày cuối cùng của tuần có phát sinh các trường hợp này, nếu không sẽ ghi nhận là vi phạm giờ giấc làm việc hoặc nghỉ không có lý do.
             3. Đối với cán bộ - công nhân viên hoặc tập thể do tính chất công việc thường xuyên phải làm việc bên ngoài hoặc đi công tác từ 02 (hai) ngày trở lên thì lãnh đạo khoa/ban cần lập phiếu đăng lý danh sách cán bộ - công nhân viên không chấm công bằng máy (theo biểu mẫu BM-05/QLCC) trình Ban Giám đốc phê duyệt và gửi về tổ chấm công để tính công. Khi có thay đổi, phải lập danh sách và gửi về Tổ chấm công để cập nhật.
             Điều 6. Lập bảng chấm công và xác nhận bảng chấm công hàng tháng
             1. Lập bảng chấm công:
             Việc chấm công trên máy là căn cứ để tổ quản lý chấm công tổng hợp sau khi Tổ công nghệ thông tin chiết xuất dữ liệu từ phần mền tích hợp. Căn cứ lập bảng chấm công gồm:
             + Dữ liệu check in – check out hàng ngày trên máy chấm công.
             + Đơn xin nghỉ làm việc theo chế độ phép năm, bảo hiểm xã hội (ốm đau, thai sản….) được Ban Giám đốc phê duyệt trong tháng tính đến thời điểm lập bảng chấm công (theo biểu mẫu BM-01/QLCC). Tùy trường hợp cụ thể, đơn xin phép được gửi về Tổ chấm công theo thời gian quy định).
             + Các loại giấy tờ có liên quan khác (nếu có) như: Giấy xác nhận nằm viện, giấy đề nghị xác nhận ngày công…. Phiếu đăng ký nghỉ bù (theo biểu mẫu BM-07/QLCC).
             2. Xác nhận bảng chấm công tháng:
              Bảng chấm công hàng tháng được tính từ ngày 26 tháng trước đến ngày 25 tháng chấm công, do hành chính trưởng các khoa/ban lập. Bảng chấm công được ký xác nhận bởi Hành chính trưởng và lãnh đạo của khoa/ban (theo biểu mẫu BM-02/QLCC)
             Điều 7. Xếp loại công ABC hàng tháng thực hiện theo các tiêu chí sau   
              Công A:
             1. Đảm bảo ngày giờ công đúng quy định, trong tháng nghỉ không quá 01  ngày có lý do đúng qui định, đi trễ về sớm không quá 1 lần/tháng).
             2. Thực hiện tốt các nội dung sau:
             - Cán bộ, nhân viên phải mặc trang phục phù hợp ở từng vị trí công việc, trang phục chỉnh tề, đúng quy định về kiểu, có logo Bệnh viện, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nữ hộ sinh phải đội mũ, đeo thẻ nhân viên hoặc bảng tên theo quy định.
            
             - Công A: Nên tập hơp các nội dung chính và phụ
             - Công B: Bao nhiêu chính và bao nhiêu phụ
             - Sử dụng đúng dụng cụ bảo hộ khi thăm khám bệnh nhân (khẩu trang, găng tay…)
             - Không mặc trang phục chuyên môn ra ngoài bệnh viện.
             - Tham gia các buổi hội họp, học tập đúng giờ, đúng trang phục quy định.
             - Thực hiện tốt các chế độ trực: Áp dụng cho tất cả các vị trí trực chuyên môn thường xuyên (BS, DS, ĐD, KTV, trực SSCĐ, trực ban, trực bảo vệ, trực điện nước, trực xe).
             - Thực hiện tốt chế độ quản lý buồng bệnh, buồng kỹ thuật, phân cấp hộ lý; bảo quản tốt dụng cụ, trang thiết bị.
             - Hồ sơ bệnh án: Bao gồm các chế độ vào viện, ra viện, chuyển viên, chuyển khoa: Khám, chẩn đoán, làm bệnh án, hội chẩn, chống nhầm lẫn thuốc và tai nạn điều trị; làm bệnh án đúng thời gian quy định, thực hiện đúng quy định vào viện, ra viện, chuyển viện, chuyển khoa, chỉ định CLS đúng quy trình, hoặc chỉ định CLS và sử dụng thuốc phù hợp chẩn đoán; Tổng hợp, báo cáo đúng quy định, lưu trữ bảo quản tốt hồ sơ, sổ sách, tài liệu, chứng từ hợp lý, hợp lệ… của các cơ quan chuyên ngành (chính trị, kế hoạch TH, tài chính, hậu cần, BHYT…Khoa Dược, Trang bị).
- Nội vụ vệ sinh phòng làm việc, phòng kỹ thuật, buồng bệnh sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp.
- Cá nhân không vi phạm về đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần thái độ phục vụ và quy tắc ứng xử của cán bộ, nhân viên đúng mực với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, không để có thư góp ý phản ánh trực tiếp hoặc trên đường dây nóng, với lãnh đạo, chỉ huy bệnh viện (xác minh đúng sự thật).
- Không có hành vi sách nhiễu, gợi ý bồi dưỡng, nhận quà, tiền biếu, thu phí, trái với quy định của bệnh viện. Tất cả cán bộ - nhân viên y tế không được thu tiền của bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân.
- Không gây mất đoàn kết hoặc có hành vi ứng xử thiếu văn hóa với đồng nghiệp. Trung thực với lãnh đạo, chỉ huy ban, khoa và cấp trên; không bao che cho các hành vi vi phạm của đồng nghiệp, luôn tương trợ giúp đỡ đồng nghiệp.
- Không vi phạm kỷ luật phải xử lý.
- Không để xảy ra sự cố trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm.
         Công B: Mức hưởng = 60% Công A
- Vi phạm nội qui, qui chế Bệnh viện, mức độ nhẹ (nhắc nhở > 03 lần/tháng);
- Sai sót chuyên môn do thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả ít nghiêm trọng về người và tài sản;
-  Vi phạm chế độ thông tin báo cáo: Báo cáo không trung thực, nộp báo cáo trễ từ 02 ngày làm việc trở lên (kể cả hồ sơ bệnh án); 
- Có biểu hiện, hoặc gây mất đoàn kết nội bộ;
- Tác phong, trang phục không chỉnh tề bị nhắc nhở  < 3lần/tháng;
- Hút thuốc trong Bệnh viện;
- Nghỉ từ 01 ngày không lý do; đi trễ > 15 phút ( < 3 lần/tháng ) trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt chính trị, giao ban, hội họp,…do đơn vị tổ chức; hoặc về sớm > 30 phút (chưa được sự đồng ý của cấp quản lý trực tiếp);
Vi phạm 01 trong các trường hợp trên sẽ bị kiểm điểm và xếp loại B.
Công C: Mức hưởng = 20% Công A
- Sai sót chuyên môn do thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản;
Nghỉ không lý do từ 01 ngày trở lên (< 03 ngày)
- Vi phạm một trong những điều không được làm trong Qui tắc ứng xử (có đồng nghiệp chứng thực hoặc có xác minh);
- Có hành vi sách nhiễu, gợi ý bồi dưỡng, nhận quà, tiền biếu, thu tiền sai quy định, trong lúc người bệnh đến thăm khám và nằm điều trị tại BV;
- Có đơn thư khiếu nại của người bệnh và gia đình người bệnh xác định có sai sót;
- Ngoài việc xác định công A, B, C theo tiêu chí trên nếu CBNV vi phạm lỗi lấy dấu vân tay (3 lỗi – 1 ngày công, 5 lỗi trở lên – 2 ngày công)
Điều 8. Xếp loại công ABC cả năm thực hiện như sau:
1.     Xếp loại A: Có từ 10/12 tháng đạt công A; không có công C
2.     Xếp loại B: Có từ 10/12 tháng đạt công A và B; không có công C
3.     Xếp loại C: Có từ 10/12 tháng đạt công A, B và C

Phần III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 9. Tổ chức thực hiện
- Quy định quản lý chấm công được triển khai thống nhất trong phạm vi Bệnh viện. Chỉ huy các khoa/ban, khu điều trị, bộ phận…. trực thuộc chịu trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn cán bộ - công nhân viên thuộc đơn vị mình thực hiện.
- Hết ngày 25 hàng tháng (nếu ngày 25 hàng tháng vào ngày thứ Bảy hoặc Chủ nhật thì chọn ngày 23 hoặc 24 vào ngày thứ Sáu cuối tuần đó) Tổ Công nghệ thông tin phải chiết xuất dữ liệu gửi về các khoa/ban chậm nhất ngày 27 hàng tháng. Hành chính trưởng các khoa/ban tiến hành ghi bảng chấm công của từng cá nhân qua dữ liệu chiết xuất của Tổ CNTT và các giấy tờ, văn bản có liên quan đến việc chấm công, xác định công ABC trong tháng, chỉ huy khoa/ban xem ký thông qua và chậm nhất ngày 01 hàng tháng gửi về Tổ chấm công được phân công phụ trách.
- Các đồng chí phụ trách rà soát xác định rõ công A, B và C gửi về Tổ trưởng chậm nhất là ngày 03 hàng tháng để tổng hợp trình Ban Giám đốc phê duyệt. Ban Hành chính thẩm định, tổng hợp ký xác nhận. Chậm nhất ngày 05 hàng tháng Tổ chấm công trình Ban Giám đốc Bệnh viện phê duyệt. Lưu ý các khoa/ban chuyển bảng chấm công ABC hàng tháng về Tổ chấm công trễ so với thời gian quy định thì Trưởng Khoa ban và Hành chính trưởng của khoa/ban đó bị hạ xuống 1 bậc xếp loại công ABC trong tháng.
- Sau khi Ban Giám đốc phê duyệt, Ban Tài chính căn cứ vào quỹ chi ABC của Bệnh viện để trích thu nhập tăng thêm (phân phối, trích cấp trước ngày 10->15 của tháng sau) theo quy chế chi tiêu nội bộ của Bệnh viện.
- Trong quá trình thực hiện nếu có những kiến nghị sửa đổi, các khoa, ban khu điều trị, bộ phận…phản ảnh về Ban Hành chính để tổng hợp trình Giám đốc xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Điều 10. Hiệu lực phù hợp. (Thi hành)
Quy chế này gồm 3 phần, 10 điều quy định thực hiện quản lý chấm công ABC tại Bệnh viện quân y 7A. Có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.
                                                                                   


  Nơi nhận :                                                                                  GIÁM ĐỐC 
- Chủ nhiệm HCQK (để B/cáo);
- Các đ/c trong Ban Giám đốc;                                                       
- Các khoa/ban trong Bệnh viện;
- Lưu : VT, BHC; T35b.
                     



Xem thêm:

Hình ảnh có liên quan



Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

847/CT-BYT, CHỈ THỊ Về các giải pháp để bảo đảm và nâng cao chất lượng dịch vụ khi thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh


           BỘ Y TẾ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Số:          /CT-BYT
Hà Nội, ngày       tháng  8  năm 2018

CHỈ THỊ
Về các giải pháp để bảo đảm và nâng cao chất lượng dịch vụ khi thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
 

Thực hiện Nghị quyết 68/2013/QH13 của Quốc hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT), Liên Bộ Y tế - Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 (Thông tư số 37) quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc. Thông tư số 37 là một bước tiến quan trọng trong lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ. Mức giá bao gồm: chi phí trực tiếp và tiền lương theo mức lương cơ sở là 1.150.000 đồng/tháng (chưa được tính theo lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng/tháng; chưa tính chi phí quản lý và khấu hao tài sản) nhưng đã làm tăng quyền lợi của người có thẻ BHYT, khuyến khích các cơ sở tuyến dưới phát triển kỹ thuật, nâng cao chất lượng dịch vụ, góp phần làm tăng tỷ lệ người dân tham gia BHYT (đến nay đã có 86,9% dân số tham gia BHYT).
Trong thời gian vừa qua, tỷ lệ người dân tham gia BHYT tăng, người dân ngày càng hiểu rõ lợi ích, tính nhân văn của chính sách bảo hiểm y tế nên tần suất khám chữa bệnh/thẻ BHYT ngày càng tăng. Các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện được đầu tư nâng cấp, được các cơ sở y tế tuyến trên tăng cường đào tạo và chuyển giao kỹ thuật nên số lượng, chất lượng dịch vụ được tăng lên; dẫn đến công suất sử dụng giường bệnh và một số dịch vụ kỹ thuật tăng, làm giảm chi chí tính cho 01 dịch vụ. Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các nhiều địa phương đã đẩy mạnh việc đấu thầu tập trung nên giá một số thuốc, vật tư, hóa chất giảm. Tuy nhiên cũng có một số chi phí như điện, nước tăng. Để mức giá dịch vụ phù hợp với chi phí thực tế và khả năng cân đối quỹ BHYT trong điều kiện chưa điều chỉnh được mức đóng, Bộ Y tế, Bộ Tài chính và BHXH Việt Nam đã khảo sát, tính toán chi phí thực tế của một số dịch vụ, trên cơ sở đó, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp (sau đây gọi tắt là Thông tư số 15/2018/TT-BYT, thay thế Thông tư 37), có hiệu lực từ ngày 15/7/2018, trong đó có điều chỉnh giá một số dịch vụ, kỹ thuật y tế.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ y tế sau khi điều chỉnh giá dịch vụ và sử dụng có hiệu quả Quỹ bảo hiểm y tế, Bộ Y tế yêu cầu Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong toàn quốc thực hiện các nội dung sau đây:
I. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định số 2151/QĐ-BYT ngày 04/6/2015 của Bộ Y tế ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”, đào tạo, tập huấn, xây dựng đội ngũ cán bộ y tế có tinh thần, thái độ phục vụ văn minh, thân thiện.
2. Công tác khám bệnh
a) Bố trí, điều tiết nhân lực và các buồng khám, bàn khám phù hợp với nhu cầu khám bệnh của người dân, đặc biệt là vào các thời điểm cao điểm để  giảm thời gian chờ đợi của người bệnh, bác sỹ và nhân viên y tế đủ thời gian để khám, tư vấn cho người bệnh;
b) Đối với việc khám, cấp thuốc điều trị ngoại trú cho người mắc bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính: Các cơ sở y tế tuyến trên phải tuyên truyền, giải thích, tư vấn và chuyển người bệnh về tuyến y tế cơ sở để theo dõi, quản lý, cấp phát thuốc. Các đơn vị y tế tuyến cơ sở phải báo cáo Sở Y tế để bảo đảm đủ thuốc, tăng cường công tác đào tạo, tập huấn về chuyên môn để y tế cơ sở thực hiện việc theo dõi, quản lý, điều trị đối với các bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính theo phân tuyến.  
c) Tiếp tục thực hiện nghiêm và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến quy trình khám bệnh, giảm thủ tục hành chính và giảm thời gian chờ khám bệnh theo hướng dẫn tại Quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày 22/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn quy trình khám bệnh tại khoa Khám bệnh của Bệnh viện. Các bệnh viện phải tăng cường công tác truyền thông, vận động để người dân thay đổi thói quen chỉ đến khám vào buổi sáng. Đối với người mắc bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính trong trường hợp chỉ đến khám để cấp thuốc hoặc cho đơn thuốc, không phải thực hiện xét nghiệm cần hướng dẫn và hẹn khám vào buổi chiều để giảm áp lực khám vào buổi sáng tại bệnh viện.
d) Các bệnh viện tuyến trên phải tập trung khám, chữa các bệnh theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, các bệnh mà tuyến dưới không thực hiện được; phải tuyên truyền, vận động, tư vấn để các trường hợp đến khám, kiểm tra sức khỏe nhưng không cần điều trị hoặc tái khám ở bệnh viện tuyến trên thì phải giới thiệu, tư vấn để người dân đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế tuyến dưới, nhất là tuyến y tế cơ sở để vừa bảo đảm quyền lợi của người có thẻ BHYT, vừa giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên.
3. Chỉ định sử dụng dịch vụ, chỉ định người bệnh vào điều trị nội trú
a) Giám đốc các cơ sở khám, chữa bệnh phải tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm, đúng các quy định chuyên môn trong việc chỉ định các dịch vụ cận lâm sàng; tăng cường điều trị ngoại trú, điều trị ban ngày, chỉ định người bệnh vào điều trị nội trú theo đúng quy định; nâng cao chất lượng điều trị để giảm thời gian điều trị nội trú của người bệnh. Giám đốc cơ sở khám, chữa bệnh và người trực tiếp chỉ định phải chịu trách nhiệm nếu để xẩy ra các trường hợp chỉ định sử dụng dịch vụ kỹ thuật, chỉ định người bệnh vào điều trị nội trú, kéo dài thời gian điều trị nội trú không đúng theo các quy định về chuyên môn y tế.
b) Thực hiện nghiêm các giải pháp giảm quá tải, trường hợp quá tải phải chuyển người bệnh xuống tuyến dưới, sang các cơ sở khám, chữa bệnh khác trên địa bàn. Chỉ được kê thêm giường để người bệnh không phải nằm ghép đối với trường hợp thực sự quá tải. Không kê thêm giường bệnh trong trường hợp không sử dụng hết số giường theo kế hoạch được giao.
c) Thực hiện đúng quy định về danh mục, tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với dịch vụ kỹ thuật y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT theo quy định tại Thông tư 35/2016/TT-BYT ngày 28/9/2016 của Bộ Y tế. Tăng cường và thường xuyên kiểm tra để tránh các trường hợp áp dụng sai mức giá dịch vụ, giá thuốc, vật tư y tế, tính sai số ngày điều trị nội trú… 
4. Chú trọng công tác dinh dưỡng, tiết chế, kiểm soát nhiễm khuẩn, giặt là đồ vải trong bệnh viện; kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị của bệnh viện; tăng cường kiểm tra việc kê đơn, bình bệnh án, tuân thủ đúng hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, quy trình kỹ thuật, quy trình chăm sóc người bệnh; phòng ngừa và giảm thiểu các tai biến, sự cố y khoa . . .
5. Các cơ sở khám, chữa bệnh thường xuyên quá tải, có số lượng người làm việc được giao không bảo đảm việc chăm sóc, phục vụ người bệnh phải báo cáo cấp có thẩm quyền giao tăng giường bệnh, giao tăng số lượng người làm việc (xây dựng lại đề án vị trí việc làm để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định).
6. Quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính của bệnh viện, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, giảm các khoản chi không cần thiết. Sử dụng số thu tiền khám bệnh, tiền ngày giường theo quy định của Thông tư số 15/2018/TT-BYT và ưu tiên sử dụng quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để đầu tư mua sắm trang thiết bị, dụng cụ, bàn, ghế, giường, tủ cho các phòng khám, các phòng điều trị, đặc biệt lưu ý phải mua sắm bổ sung, thay thế các loại giường bệnh theo đúng loại giường đã kết cấu trong giá dịch vụ, bảo đảm quần áo, chăn, ga, gối, đệm cho người bệnh, áo cho người nhà người bệnh, sửa chữa khu vệ sinh đảm bảo sạch sẽ. 
7. Tăng cường thực hiện chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới theo mô hình bệnh viện vệ tinh, chỉ đạo tuyến, luân phiên cán bộ y tế về tuyến cơ sở. . . Nghiêm túc thực hiện Quyết định số 4026/QĐ-BYT ngày 20/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy định phân công công tác chỉ đạo tuyến trong lĩnh vực khám chữa bệnh.
8. Tổ chức đấu thầu, mua sắm thuốc, vật tư, hóa chất theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành.
9. Đẩy mạnh việc thực hiện đúng lộ trình liên thông kết quả xét nghiệm theo Quyết định 316/QĐ-TTg ngày 27/2/2016 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Đề án tăng cường năng lực hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm y học giai đoạn 2016-2025 và các quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế.
II. Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
1. Phối hợp chặt chẽ với Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc TW và các cơ sở y tế để nắm bắt các thông tin và giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc về khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, trường hợp vượt quá thẩm quyền báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ Y tế để xem xét, giải quyết;
2. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chuyên môn y tế, về khám bệnh, chữa bệnh, giá dịch vụ y tế, tổ chức đấu thầu, cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư y tế và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc phạm vi quản lý, xử lý nghiêm, công khai các trường hợp vi phạm.
3. Triển khai ngay Đề án Y tế cơ sở theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Chương trình số 1379/CTr-BYT và Hướng dẫn số 1383/HD-BYT của Bộ Y tế, đầy mạnh việc triển khai Thông tư số 39/2017/TT-BYT ngày 18/10/2017 của Bộ Y tế về quy định gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến y tế cơ sở. Phối hợp với Bảo hiểm xã hội để bảo đảm đủ thuốc cho tuyến y tế cơ sở, tăng cường công tác đào tạo, tập huấn để y tế cơ sở thực hiện việc theo dõi, quản lý, điều trị đối với các bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính.
4. Phối hợp với Sở Tài chính để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: tiếp tục bảo đảm phần tiền lương và các chi phí còn thiếu do giá dịch vụ chưa tính đủ chi phí cho các cơ sở khám, chữa bệnh; chỉ phân loại và giao cho đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên đối với các đơn vị có số thu lớn hơn hoặc bằng số chi. Các đơn vị cung ứng được ít dịch vụ, có khó khăn về nguồn thu như bệnh viện/trung tâm y tế huyện, bệnh viện phong, tâm thần, y học cổ truyền… cần phải rà soát, nếu thu không đủ chi thì phải phân loại và giao tự chủ theo loại đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên. Ngân sách phải tiếp tục bảo đảm phần tiền lương còn thiếu và một số khoản chi như mua sắm, sửa chữa cơ sở…
5. Triển khai thực hiện tốt công tác đấu thầu tập trung tại địa phương. Báo cáo UBND tỉnh bố trí ngân sách địa phương hỗ trợ cho các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện luân phiên đưa bác sỹ từ tuyến tỉnh xuống tuyến huyện, từ tuyến huyện xuống tuyến xã và ngược lại.
III. Đối với các đơn vị thuộc Bộ Y tế
1. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh làm đầu mối, phối hợp với các Vụ, Cục và đơn vị có liên quan chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định về chuyên môn, thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ; tổ chức việc kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động chuyên môn liên quan đến việc chỉ định sử dụng dịch vụ, thuốc, vật tư, chỉ định người bệnh vào điều trị nội trú và các hoạt động chuyên môn khác;
2. Vụ Bảo hiểm Y tế làm đầu mối, phối hợp với các vụ, cục, Thanh tra Bộ và các đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, giám sát hoặc chỉ đạo Sở Y tế, cơ quan quản lý y tế của các bộ, ngành tổ chức việc kiểm tra, giám sát về công tác khám bệnh, chữa bệnh và việc thực hiện Thông tư số 15/2018/TT-BYT;
3. Thanh tra Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Vụ, Cục của Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề xuất và tổ chức thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất về công tác khám bệnh, chữa bệnh và quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế.
4. Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Vụ Bảo hiểm y tế, Vụ Kế hoạch Tài chính - Bộ Y tế theo chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và tổng hợp tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị này để báo cáo Bộ trưởng Bộ Y tế.
Nhận được Chỉ thị này, yêu cầu các đơn vị khẩn trương tổ chức thực hiện, định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Y tế./.

Nơi nhận:                                                    
- Như trên;
- Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam (đề báo cáo);
- Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ (đề b/c);
- Các đ/c Thứ trưởng (để chỉ đạo);
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam (để chỉ đạo);
- Sở Y tế các tỉnh/TP;
- Y tế các Bộ, ngành (để chỉ đạo);
- Các Bệnh viện trực thuộc BYT;
- Các vụ, cục, tổng cục, thanh tra Bộ,
- Cổng TTĐT Bộ Y tế;
- Lưu: VT, KH-TC.
BỘ TRƯỞNG






Nguyễn Thị Kim Tiến





Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

Học tập "Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa" tuần 36/2018




LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA
Ngày 03 tháng 9
“Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân... đồng thời giảm nhẹ dần sự đóng góp của nông dân”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài xã luận “Lễ mừng Quốc khánh 02/9/1955” đăng trên Báo Nhân dân, số 549, ra ngày 03 tháng 9 năm 1955. Trước đó, lời kêu gọi này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc vào sáng ngày 02 tháng 9 năm 1955 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) trước hàng chục vạn đồng bào gồm đủ các giới, các dân tộc; trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi trọn vẹn, đất nước tạm phân chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đang tiến hành khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; quân dân miền Nam đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, hướng tới cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền. Trong bối cảnh đó, lời kêu gọi của Bác đã làm nức lòng đồng bào, nhất là tầng lớp nông dân, động viên mọi người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, khắc phục trở ngại, hoàn thành thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Chủ trương: “Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân” và làm “giảm nhẹ đóng góp của nông dân” là một nội dung lớn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nêu bật nghĩa vụ và trách nhiệm của chính quyền các cấp trong hệ thống chính trị phải làm mọi cách, tìm mọi biện pháp để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa nhân dân trở thành người làm chủ, đúng với chủ trương, đường lối xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”.


Sau hơn 40 năm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, đất nước đang trên con đường phát triển mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với thế giới, lời của Bác dạy năm xưa vẫn mang tính thời sự sâu sắc, là mục tiêu, động lực của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mỗi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, là người chủ của đất nước.


Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, là quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; đồng thời, đó còn là một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; do đó hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng phấn đấu, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, có trình độ kỹ, chiến thuật cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, tích cực hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quân đội chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, tham gia giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, … góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
(Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.117)





Lời Bác Hồ dạy: Ngày 04 tháng 9
“Mong cán bộ ta cẩn thận từng lời nói, từng việc làm, thật thà “ba cùng”, làm đúng chính sách, để giành lấy kết quả tốt hơn trong công tác phát động quần chúng”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết “Những kinh nghiệm cần phải tránh trong công tác phát động quần chúng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 221, từ ngày 04 đến ngày 06 tháng 9 năm 1954, bút danh “C.B”. Đây là thời điểm miền Nam đang tiến hành đấu tranh chính trị, giữ gìn, phát triển lực lượng, chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới; miền Bắc đang trong thời kỳ khôi phục, cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn thận trọng trong từng lời nói, việc làm, đặc biệt là phải luôn thật thà, khiêm tốn, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm huy động sức mạnh đông đảo của quần chúng cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng. Lời kêu gọi trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trở thành phương hướng hành động, mục tiêu phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, đảng viên mà còn tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân, động viên, cổ vũ nhân dân thi đua lao động, sản xuất, kháng chiến thắng lợi.


Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi tình hình thế giới, khu vực, trong nước diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp, nhanh chóng đến mọi mặt đời sống xã hội, càng nhận thấy giá trị sâu sắc lời căn dặn của Bác năm xưa; đặc biệt, nó đã trở thành định hướng quan trọng để đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận hiện nay phải vươn lên để lãnh trách nhiệm trước Đảng, trước dân, khắc phục mọi khó khăn, yếu kém, nhạy bén, tham mưu giải quyết một cách kịp thời, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, góp phần thiết thực vào việc củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để cho mọi người ai cũng phải làm dân vận, ai cũng biết làm dân vận và ai cũng được làm dân vận, chứ không phải là công việc riêng cán bộ chuyên trách.


Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, trong suốt hành trình hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, đã chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do của Tổ quốc, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hằng năm có hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, nơi phức tạp về an ninh, chính trị, dân tộc, tôn giáo; các Đoàn kinh tế - quốc phòng đã tích cực giúp đỡ nhân dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, giữ gìn an ninh chính trị… theo đúng phương châm “Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin” được cấp uỷ, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, tiếp tục giữ vững và phát huy tốt truyền thống tốt đẹp “đến dân mừng, đi dân nhớ, ở dân thương”.

Nguồn: 
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1687040411406607&set=a.129669940477003&type=3&theater&ifg=1





LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA
(Ngày 05 tháng 9 năm 1954)

“Những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi”. 
Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô”, Bác nói ngày 05 tháng 9 năm 1954. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa mới kết thúc (07/5/1954), Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21/7/1954). Để công tác tiếp quản Thủ đô được nhanh chóng, an toàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và có những lời căn dặn quý báu đối với lực lượng bộ đội và công an thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô phải giữ vững lập trường, bản chất cách mạng, luôn kiên định, trách nhiệm với công việc được giao, không dao động trước sự phồn hoa của đời sống thị thành.

Lời căn dặn của Bác ngắn gọn, nhưng súc tích, là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an cần phải giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, khí tiết của người chiến sĩ cộng sản; gương mẫu trong mọi lời nói, hành động và việc làm; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh chóng và chính xác, tránh sa vào những cạm bẫy của cuộc sống đời thường. Do vậy, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, góp phần bồi dưỡng đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có thái độ giao tiếp, ứng xử chuẩn mực; có năng lực và tính chuyên nghiệp cao trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Phát huy truyền thống tốt đẹp, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, không để rơi vào cạm bẫy, sa hoa; luôn kiên định với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; sẵn sàng xả thân hy sinh cứu dân, chung vai sát cánh cùng nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, nông thôn mới; có lối sống văn minh, năng động, trí tuệ, đoàn kết và kỷ luật nghiêm./.



Nguồn: 
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1688085424635439&set=a.129669940477003&type=3&theater&ifg=1
https://www.facebook.com/loibachoday/videos/267217043911175/?fb_dtsg_ag=AdxsWMKAc1kim7QjcsYWOnVJ1c-kFOWwvIBVv1hiXLkkQA%3AAdzxcYcGQuAMA14x_2t2Tf0mxz72n-LKcZmrqsF5D4JMLg





Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa 

Ngày 07/9/1957 BÁC dạy “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được” .Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, ngày 07 tháng 9 năm 1957. 

Đây là thời điểm cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ mới sau thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược. Lúc này, miền Bắc đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đặt ra phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ và năng lực, đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhắc nhở đối với người đảng viên phải luôn cố gắng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, tự nâng cao trình độ của mình. Đây cũng là yêu cầu của Bác, trước khi muốn cải tạo xã hội, tự thân người đảng viên phải tự cải tạo mình, tự học, tự rèn để không ngừng tiến bộ. Lời Bác dạy có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người đảng viên, trước hết đối với việc xác định động cơ, thái độ phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực. Đồng thời, câu nói có ý nghĩa là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải là lực lượng xung kích, đi đầu, phải nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên cần không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực. 


Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thực sự là một tấm gương tốt cho bộ đội học tập, noi theo, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn; thường xuyên có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện mình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải luôn đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi cao, do vậy phải có động cơ, thái độ đúng đắn, rõ ràng. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được ý nghĩa của việc “tự cải tạo”, “tự nâng cao”, coi đó là một nhu cầu tự thân. Không tự ti, giấu dốt, luôn có thái độ cầu tiến bộ, xóa bỏ tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, vì tập thể, đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước. Có như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên mới thực sự mẫu mực về phẩm chất và năng lực, là tấm gương có sức lan tỏa rộng rãi, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.


Nguồn: 
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1690188104425171&set=a.129669940477003&type=3&theater&ifg=1





Lời Bác Hồ dạy: Ngày 08 tháng 9
“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội nhà báo Việt Nam”, ngày 08 tháng 9 năm 1962, được đăng trên Báo Nhân dân, số 3089, ra ngày 09 tháng 9 năm 1962.

Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam diễn ra trong bối cảnh cách mạng nước ta đang trên đà phát triển; miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong sự nghiệp cách mạng đó, báo chí giữ một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của nhân dân ta. Tới dự và phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo sâu sắc, định hướng cho sự phát triển của báo chí cách mạng trong thời kỳ này. Câu nói của Bác khẳng định vai trò của tiếng nói, là một tài sản quý báu của dân tộc, không chỉ những người làm công tác báo chí, mà mỗi người chúng ta đều phải có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị to lớn của tiếng Việt trong sự nghiệp cách mạng. Lời Bác dạy năm xưa đến nay vẫn có giá trị, ý nghĩa sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa mới trong xu thế hội nhập và phát triển.


Hiện nay, quá trình hội nhập và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng nói. Bên cạnh những tác động tích cực, tình trạng sử dụng tiếng Việt chưa chuẩn xác, thậm chí kết hợp với các từ ngữ nước ngoài diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, sự du nhập của nhiều yếu tố ngoại lai, việc sử dụng ngôn ngữ tự sáng tác trên mạng xã hội của một bộ phận giới trẻ hoặc như ý tưởng đề xuất thay thế tiếng Việt đang sử dụng thành bản tiếng Việt mới nhưng thiếu thực tế của một vài cá nhân đã xâm hại một cách nghiêm trọng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Để giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc không bị mai một, mỗi người chúng ta phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ của mình, cả trong văn nói và văn viết. Không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ sử dụng ngôn từ thuần Việt, trước hết là sử dụng chính xác, hạn chế việc dùng tiếng nước ngoài khi không cần thiết. Đặc biệt cần phải kiên quyết loại bỏ việc pha trộn bừa bãi giữa tiếng Việt với tiếng nước ngoài, sử dụng các từ ngữ méo mó, biến dạng, làm mất đi giá trị vốn có của ngôn ngữ dân tộc.


Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị to lớn của tiếng Việt. Trước hết, phải sử dụng ngôn ngữ trong sáng trong giao tiếp hằng ngày, không dùng từ ngữ thô tục. Trong quá trình công tác, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động phải căn cứ vào đối tượng và mục đích tuyên truyền để sử dụng ngôn từ cho phù hợp, dễ nghe, dễ hiểu. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn có ý thức tự học, nâng cao trình độ nói và viết sao cho chặt chẽ, logic, tránh dùng những từ đa nghĩa, khó hiểu. Có như vậy, mới hạn chế được những sai sót, góp phần bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt./.


Nguồn: 
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1691222640988384&set=a.129669940477003&type=3&theater





Lời Bác Hồ dạy: Ngày 09 tháng 9
“Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc”, ngày 09 tháng 9 năm 1952. Bước vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhu cầu lương thực, vũ khí cho chiến trường ngày càng lớn, trong khi công tác hậu cần, tiếp tế ngày càng khó khăn, gian khổ. Dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Bắc (1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những ý kiến định hướng và chỉ đạo, đồng thời động viên, khơi dậy tinh thần quyết tâm của cán bộ tại Hội nghị. Câu nói của Bác là sự khẳng định vai trò to lớn của lương thực, vũ khí đối với sự nghiệp kháng chiến của quân và dân ta, là nguồn sức mạnh giúp bộ đội yên tâm cầm súng chiến đấu, tin tưởng vào thắng lợi. Lời dạy của Bác là sự căn dặn về thái độ của mỗi cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận đối với lương thực và vũ khí, từ đó có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Mặc dù sự nghiệp đổi mới đã và đang thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển đất nước phải tiết kiệm, hợp lý. Những tài sản của Nhà nước, bộ máy chính quyền các cấp đều từ đóng góp của người dân, đòi hỏi người sử dụng phải có ý thức giữ gìn, bảo quản và sử dụng tiết kiệm. Mỗi người cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, thực hiện cần, kiệm, đóng góp một phần công sức vào công cuộc xây dựng đất nước.


Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt các phong trào thi đua: “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”… và cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” đã phát huy tinh thần tiết kiệm, giữ tốt, dùng bền các loại vũ khí, trang bị trong biên chế. Trước hết, mỗi người cần phải có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của việc tiết kiệm và sử dụng hợp lý lương thực, thực phẩm, điện, nước, chất đốt, vũ khí trang bị… Trên cơ sở đó, cụ thể hóa trong công tác hằng ngày, bằng việc tiết kiệm những tiêu dùng không cần thiết như điện, nước, lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm…; bảo quản và sử dụng đúng mục đích các loại vũ khí, khí tài, trang bị trong huấn luyện, diễn tập và thực hiện các nhiệm vụ. Đặc biệt, trong công tác quản lý, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, vừa thực hiện đúng, đủ tiêu chuẩn, chế độ cho bộ đội, vừa không để xảy ra tình trạng tiêu cực, lãng phí. Ngoài ra, phải đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả với những biểu hiện lãng phí, những hành vi sai trái trong bảo quản, sử dụng không đúng mục đích các trang thiết bị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Nguồn: 
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1692407264203255&set=a.129669940477003&type=3&theater







Xem thêm: 
Học tập "Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa" tuần 26/2018