Thứ Hai, 24 tháng 7, 2017

DS học Anh văn 2017

Thời gian: 11g30 - 13g00

- Lớp 1: thứ 2, thứ 4
- Lớp 2: thứ 3, thứ 6

Kết quả hình ảnh cho study english

DANH SÁCH LỚP 1

TT
Họ và tên
Cấp bậc
Chức vụ
Đơn vị
1.       
Lê Tuấn Anh
4/
TLCT
BCT
2.       
Nguyễn Phú Sương
3//CN
CNXN
Khoa XN
3.       
Võ Thị Thúy Hồng
CNVQP
HCT
Khoa XN
4.       
Phạm Thị Huế
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
5.       
Huỳnh Bảo Huy
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
6.       
Dương Thị Lành
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
7.       
Huỳnh Quốc Tải
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
8.       
Trần Ng. Kim Xuyến
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
9.       
Nguyễn Thị Huệ
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
10.  
Đinh Thị Tình
2//CN
NV
Khoa VLTL
11.  
Luyện Văn Cường
CNVQP
HCT
Khoa VLTL
12.  
Dương Đức
1/
BSĐT
Khoa HSCC
13.  
Nguyễn Văn Thắng
2/CN
YS
Khoa HSCC
14.  
Nguyễn Thị Hảo
3/CN
HCT
Khoa HSCC
15.  
Phạm Việt Phương
4/CN
BSĐT
Khoa A4
16.  
Nguyễn T Chúc Phương
CNVHĐ
HCT
Khoa Cán bộ
17.  
Đậu Đình Tân
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cán bộ
18.  
Nguyễn Linh Diệu
2/
BSĐT
Khoa Cấp cứu
19.  
Nguyễn Thị Thanh Thủy
2/CN
HCT
Khoa Cấp cứu
20.  
Hà Thanh Hải
2/CN
ĐD
Khoa Cấp cứu
21.  
Bùi Linh Sơn
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
22.  
Nguyễn Văn Chắc
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
23.  
Từ Thị Phỉ
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
24.  
Nguyễn Thị Bích Loan
2/CN
HCT
Khoa PT-GMHS
25.  
Đỗ Tiến Hậu
2/CN
ĐD
Khoa PT-GMHS
26.  
Vũ Ngọc Sơn
2//
CNHC
Ban Hậu cần
27.  
Nguyễn Hải Hân
3/
TLKH
Ban Hậu cần
28.  
Trần Văn Khôi
2/
TLQN
Ban Hậu cần
29.  
Lê Hoàng Long
2/
TLDT
Ban Hậu cần
30.  
Nguyễn Hồng Quân
3/CN
Quản lý
Ban Hậu cần
31.  
Huỳnh Thanh Phong
2/CN
Quản lý
Ban Hậu cần
32.  
Nguyễn Bá Sinh
1//
BSĐT
Khoa A1
33.  
Ngô Kim Thêu
CNVQP
HCT
Khoa A1
34.  
Triệu Thị Dung
1/CN
ĐD
Khoa A1
35.  
Nguyễn Thị Thúy Hà
2/CN
ĐD
Khoa A1
36.  
Cao Thị Thao
3/CN
ĐD
Khoa A1
37.  
Nguyễn Thanh Bình
2/
BSĐT
Khoa A2
38.  
Trần Thị Nga
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
39.  
Nguyễn T Ngọc Sương
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
40.  
Lê Văn Đạo
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
41.  
Hồng Thị Như Ý
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
42.  
 Trần Thị Mỹ Hạnh
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
43.  
Chu Sỹ Nghĩa
3/
BSĐT
Khoa Mắt
44.  
Huỳnh Thị Kim Oanh
CNVHĐ
ĐD
Khoa Mắt
45.  
Dương Văn Hải
2/CN
ĐD
Khoa Mắt
46.  
Huỳnh Thị Thu Nguyệt
CNVQP
HCT
Khoa KSNK
47.  
Lê Thị Thủy
CNVHĐ
ĐD
Khoa B2
48.  
Đỗ Thị Loan
CNVHĐ
ĐD
Khoa B2
49.  
Trần Thị Hoài
CNVHĐ
ĐD
Khoa B2
50.  
Huỳnh Thị Thu Hường
CNVHĐ
ĐD
Khoa B2
51.  
Trần Thị Thanh Trúc
CNVQP
ĐD
Khoa RHM
52.  
Nguyễn Vĩnh Tăng
1//
CNK
Khoa TMH
53.  
Nguyễn Minh Tâm
4/
BSĐT
Khoa TMH
54.  
Phan Huy Hoàng
4/
PCNK
Khoa Dược
55.  
Nguyễn Quang Thắng
3/
DSĐH
Khoa Dược
56.  
Phùng Thị Chung
2/
DSĐH
Khoa Dược
57.  
Quách Thị Minh Tâm
3//
PCNK
Khoa A3
58.  
Mai Lê Hoài Vĩnh
1/
BSĐT
Khoa A3
59.  
Vũ Thị Thanh Tâm
3/CN
HCT
Khoa A3
60.  
Nguyễn Thị Nhã
CNVQP
ĐD
Khoa A3
61.  
Võ Thị Mỹ An
CNVQP
ĐD
Khoa A3
62.  
Nguyễn T Kim Thư
CNVHĐ
ĐD
Khoa A3
63.  
Lê Ng Công NgọcDung
3/CN
ĐD
Khu KTC
64.  
Nguyễn Thị Liên
2/CN
ĐD
Khu KTC
65.  
Nguyễn Minh Thành
4/CN
TLCT
Ban Tài Chính
66.  
Tôn Anh Huy
2/CN
NVTC
Ban Tài Chính
67.  
Cao Thị Thảo
CNVQP
ĐD
Khoa A5
68.  
Nguyễn Thị Kiệm
CNVHĐ
ĐD
Khoa A5
69.  
Chu Xuân Dũng
2//CN
BSĐT
Khoa CĐHA
70.  
Nguyễn Thanh Giang
2//CN
Y sỹ
Khoa CĐHA
71.  
Nguyễn Văn Dũng
CNVHĐ
KTV
Khoa CĐHA
72.  
Trịnh Hoàng Thịnh
3/
Trưởng ban
Ban Hành chính
73.  
Nguyễn Hồng An
3//
CNK
Khoa CT-CH
74.  
Đoàn Thị Nhủ
2//
PCNK
Khoa CT-CH
75.  
Bùi Thanh Hoàng
1//
BSĐT
Khoa CT-CH
76.  
Vũ Đức Thụy
1//CN
BSĐT
Khoa CT-CH
77.  
Nguyễn Minh Hoàng
4/
BSĐT
Khoa CT-CH
78.  
Nguyễn T Diễm Trinh
CNVHĐ
Điều dưỡng
Khoa Khám Bệnh
79.  
Huỳnh Hà Thảo My
CNVHĐ
DSTC
Khoa Khám Bệnh

Kết quả hình ảnh cho study english

DANH SÁCH LỚP 2

TT
Họ và tên
Cấp bậc
Chức vụ
Đơn vị
1.       
Nguyễn Thị Ngọc Thảo
4/CN
TLCT
BCT
2.       
Đỗ Thị Phương
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
3.       
Đặng Thị Phương
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
4.       
Nguyễn Thị Mai Hương
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
5.       
Đoàn Hạ Thuyên
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
6.       
Đào Hồng Hoạt
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
7.       
Võ Công Minh
CNVHĐ
KTV
Khoa XN
8.       
Lê T Thanh Tuyền
CNVQP
NV
Khoa VLTL
9.       
Lê Thị Tuyết Chinh
CNVQP
ĐD
Khoa HSCC
10.  
Trần Thu Huyền
CNVHĐ
ĐD
Khoa HSCC
11.  
Nguyễn Th Ngọc Hương
CNVQP
ĐD
Ban YTĐD
12.  
Nguyễn Thị Hồng Thi
CNVHĐ
HCT
Khoa A4
13.  
Lê Tuấn Vũ
CNVHĐ
ĐD
Khoa A4
14.  
Trần Thị Nga
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cán bộ
15.  
Đặng Thị Loan
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cán bộ
16.  
Nguyễn Thị Vân Anh
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
17.  
Nguyễn T Ngọc Vẹn
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
18.  
Ngô Thị Xuân Quỳnh
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
19.  
Quách Vũ Linh
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
20.  
Hà Văn Chinh
CNVHĐ
ĐD
Khoa Cấp cứu
21.  
Hồ Thị Sao Ly
2/CN
ĐD
Khoa PT-GMHS
22.  
Phan Đăng Thanh
2/CN
BSĐT
Khoa PT-GMHS
23.  
Nguyễn Thanh Bình
CNVQP
ĐD
Khoa PT-GMHS
24.  
Trần Lê Trung
2/CN
Lái xe
Ban Hậu cần
25.  
Hàng Công Phán
2/CN
Lái xe
Ban Hậu cần
26.  
Nguyễn Hữu Kim
2/CN
Lái xe
Ban Hậu cần
27.  
Phan N Quang Lộc
1/CN
Lái xe
Ban Hậu cần
28.  
Hoàng T Dương Bảo
NVTT
TLQN
Ban Hậu cần
29.  
Lê Văn Hoàng
CNVHĐ
NVDT
Ban Hậu cần
30.  
Trần Văn Hùng
CNVHĐ
NVDT
Ban Hậu cần
31.  
Lê Thị Trúc Linh
CNVQP
ĐD
Khoa A1
32.  
Lê Văn Sen
CNVHĐ
ĐD
Khoa A1
33.  
Trần T Huyền Trân
CNVHĐ
ĐD
Khoa A1
34.  
Nguyễn Duy Đức
CNVHĐ
ĐD
Khoa A1
35.  
Nguyễn Thị Dung
CNVHĐ
ĐD
Khoa A1
36.  
Huỳnh Thị Đức Hòa
1/CN
BSĐT
Khoa A2
37.  
Võ Thị Phấn
CNVHĐ
BSĐT
Khoa A2
38.  
Nguyễn Phi Hổ
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
39.  
Nguyễn Thanh Hiền
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
40.  
Trần Nguyễn Huỳnh
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
41.  
Lê Thị Lâm
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
42.  
Trần Đức Thụy
CNVHĐ
ĐD
Khoa A2
43.  
Hoàng Thị Thắng
CNVHĐ
ĐD
Khoa Mắt
44.  
Nguyễn T Minh Châu
CNVHĐ
ĐD
Khoa Mắt
45.  
Nguyễn Thị Đầy
CNVHĐ
ĐD
Khoa B2
46.  
Đỗ Yến Trang
CNVHĐ
ĐD
Khoa B2
47.  
Trần Thị Long
CNVHĐ
ĐD
Khoa B2
48.  
Lê Thị Hoàng Oanh
CNVQP
ĐD
Khoa B2
49.  
Nguyễn Thị Thu Trang
CNVQP
ĐD
Khoa RHM
50.  
Nguyễn Thị Mỹ Thể
CNVQP
ĐD
Khoa TMH
51.  
Trần Thị Hoài Thu
CNVQP
ĐD
Khoa TMH
52.  
Trần Dược Khoa
2/CN
DSĐH
Khoa Dược
53.  
Văn Thị Nguyên
CNVQP
DSĐH
Khoa Dược
54.  
Hoàng T Minh Thu
CNVHĐ
DSTC
Khoa Dược
55.  
Nguyễn T Hải Lý
CNVHĐ
ĐD
Khoa A3
56.  
Nguyễn T Hồng Hạnh
CNVHĐ
ĐD
Khoa A3
57.  
Trần Thị Kim
CNVHĐ
ĐD
Khoa A3
58.  
Trần Thị Tươi
CNVHĐ
ĐD
Khoa A3
59.  
Nguyễn T Bích Phượng
CNVHĐ
ĐD
Khoa A3
60.  
Nguyễn T Mai Lan
CNVQP
ĐD
Khu KTC
61.  
Nguyễn Văn Tình
1/CN
NVTC
Ban Tài Chính
62.  
Đồng Thị Thúy Vân
4/CN
NVTC
Ban Tài Chính
63.  
Vũ Thị Nhung
Học việc
BSĐT
Khoa A5
64.  
Nguyễn Văn Noãn
CNVQP
ĐD
Khoa A5
65.  
Nguyễn Thị Lan
CNVHĐ
ĐD
Khoa CĐHA
66.  
Nguyễn Thị Phương Mai
CNVHĐ
ĐD
Khoa CĐHA
67.  
Phạm Lê Ngọc Quỳnh
CNVHĐ
NV
Khoa CĐHA
68.  
Nguyễn Thị Mỹ Phượng
CNVHĐ
DSTC
Khoa CĐHA
69.  
Nguyễn T Thanh Huyền
B2
CS
Ban Hành chính
70.  
Ngô Huyền Anh Thư
B2
CS
Ban Hành chính
71.  
Nguyễn Ngọc Hiếu
4/
BSĐT
Khoa CT-CH
72.  
Ngô Lê Thanh Tường
2/
BSĐT
Khoa CT-CH
73.  
Nguyễn Xuân Tâm
2/
BSĐT
Khoa CT-CH
74.  
Nguyễn Anh Quang
CNVHĐ
BSĐT
Khoa CT-CH
75.  
Lâm Nhị Xuân
CNVHĐ
Điều dưỡng
Khoa CT-CH
76.  
Huỳnh Hà Thảo My
CNVHĐ
DSTC
Khoa Khám Bệnh



http://www.baoquankhu7.vn/benh-vien-quan-y-7a-nang-cao-trinh-do-ngoai-ngu-cho-can-bo-cong-nhan-vien-1780442458

Bệnh viện quân y 7A: Nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, công nhân viên

 11/07/2017 5:26 PM
(QK7 Online) - Ngày 11/7/2017, Bệnh viện Quân y 7A, Quân khu 7 tổ chức khai mạc lớp học nâng cao trình độ tiếng Anh cho 159 cán bộ, nhân viên trong Bệnh viện.

Đại biểu và cán bộ, nhân viên tham dự khai giảng
Với phương thức học tập là khuyến khích tinh thần tự học, tự nghiên cứu ở mọi lúc, mọi nơi của cán bộ, nhân viên trong toàn bệnh viên, chú trọng vào phương pháp nghe, nói, tương tác giữa người học và giáo viên có nhiều kinh nghiệm đến từ Trường ngoại ngữ Dương Minh để từng bước hình thành kỹ năng nghe, nói, đọc, viết làm cơ sở để tiếp cận những kiến thức cao hơn.

Trung tá Bùi Hữu Ba, Chủ nhiệm Chính trị Bệnh viện 7A báo cáo kết quả khảo sát và quy chế của lớp học
Trước khi bước vào thời gian học chính thức, Ban tổ chức lớp học đã khảo sát ở 28 khoa, ban trong Bệnh viện với 315 phiếu và có buổi test trình độ thực tế của các đồng chí tham gia lớp học để tổ chức phân lớp cho phù hợp. Các lớp học 2 ngày trong 1 tuần và dự kiến sẽ kết thúc lớp học vào cuối năm 2017.

Học viên trình bày báo cáo kiến thức bằng tiếng Anh tại buổi khai giảng
Việc mở các lớp học tiếng Anh nâng cao, ngoài việc tạo cơ hội học tập, ôn luyện, hiểu biết thêm về kiến thức tiếng Anh cho cán bộ nhân viên trong Bệnh viện đây còn là tiêu chí để xét quy hoạch, điều động, bổ nhiệm cán bộ. Đồng thời đáp ứng tiêu chí về trình độ ngoại ngữ của đội ngũ y, bác sĩ trong lộ trình phát triển bệnh viện lên hạng 1.
                             Bá Phúc




Lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng năm 2017




Khu Kỹ thuật cao vinh dự có 4 quần chúng ưu tú tham gia lần này:
- ĐD Trương Ngọc Tùng
- HS Phan Thị Mỹ Lệ
- HS Đào Thị Thanh Trúc
- HS Lê Thị Kim Hà

Lưu ý: Xe đón các bạn đi học lúc 06g00 hàng ngày nhé!





Thứ Tư, 5 tháng 7, 2017

Câu hỏi cuộc thi tìm hiểu “70 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ 27/7/1947-27/7/2017”


No automatic alt text available.

- Bài dự thi bằng tiếng Việt, có thể viết tay hoặc đánh máy; trả lời đầy đủ 05 câu hỏi và được đánh số trang theo thứ tự, đóng lại thành tập (có thể sử dụng tranh, ảnh minh họa)
- Bài dự thi ghi rõ:
Bài dự thi tìm hiểu "70 năm ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2017)".
Họ tên: 
Cấp bậc:
Chức vụ:
Đơn vị (3 cấp, VD: Khu Chẩn đoán và Điều trị Kỹ thuật cao, Bệnh viện Quân y 7A, Cục Hậu cần Quân khu 7)
- Không nhận những bài dự thi photocopy và bài dự thi do nhiều người cùng viết (đồng tác giả).

- Thời hạn nộp bài: Trước 10g00 ngày 10/7/2017



CÂU HỎI CUỘC THI TÌM HIỂU
“70 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ 27/7/1947-27/7/2017”

1.     Lịch sử ra đời và ý nghĩa của ngày Thương binh Liệt sỹ?
2.     Đ/c cho biết đôi nét về Người liệt sỹ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Liên hệ bản thân?
3.     Câu nói: “Thương binh tàn nhưng không phế” được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói trong thời gian, địa điểm và hoàn cảnh nào? Ý nghĩa của câu nói trên?
4.     Nội dung cơ bản của Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 15/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ nói về vấn đề gì? Liên hệ thực tiễn?
5.     Cảm nghĩ của đồng chí về kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2017). Liên hệ trách nhiệm cơ quan, đơn vị? Trách nhiệm bản thân? (Bài viết không quá 1000 từ).

Tài liệu: 

Đề cương Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2017)

I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của Ngày Thương binh Liệt sỹ1. Hoàn cảnh ra đời

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần “.... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống, hy sinh một phần xương máu trên các chiến trường. Với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác... Sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.

Ngày 28-5-1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát Lớn Hà Nội để kêu gọi mọi người gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sỹ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự.

Ngày 17-11-1946, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên Hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong “Mùa đông binh sỹ”, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sỹ” trong cả nước để giúp chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi lễ và Người đã cởi chiếc áo đang mặc để tặng binh sỹ.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19-12-1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sỹ, nhất là những chiến sỹ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định với những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sỹ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sỹ.

Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ.

Tháng 6-1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh Liệt sỹ. Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ đó hàng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sỹ.

Từ tháng 7 năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” của cả nước.

Mỗi năm cứ đến “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” nhất là vào dịp kỷ niệm năm tròn, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lại tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng.

2. Ý nghĩa 
 Ngày Thương binh Liệt sỹ có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, đó là:

- Truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hi sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

  - Tôn vinh các anh hùng, liệt sỹ, thương binh và người có công; khẳng định sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau.

- Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trân trọng đánh giá cao những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sỹ đối với Tổ quốc; đồng thời cũng luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ cách mạng đối với thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng.

II. Một số thành tựu nổi bật trong công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng 70 năm qua

1. Xây dựng và thực hiện thống nhất trong cả nước một hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng

- Kể từ Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 16/2/1947 đặt “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ” đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được nghiên cứu xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm chất lượng để từng bước cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân; cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.

- Nhiều vấn đề bất hợp lý do lịch sử để lại cũng như vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế và những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, như vấn đề xác nhận liệt sỹ, thương binh; chính sách ưu đãi đối với thanh niên xung phong, những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; chính sách ưu đãi về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, chế độ trợ cấp đối với một số đối tượng người có công với cách mạng được các cấp, các ngành quan tâm, giải quyết hiệu quả.

- Việc xác nhận và giải quyết chế độ ưu đãi đối với người có công đạt được kết quả tích cực. Đến nay, toàn quốc đã xác nhận khoảng 9 triệu người có công, trong đó:

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945: gần 9.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945: 16.500 người.

+ Liệt sỹ: gần 1.2 triệu người; thân nhân liệt sỹ gần 500.000 người.

+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng: trên 117.000 người.

+ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động: gần 1.300 người.

+ Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh: gần 600.000 người; thương binh loại B: trên 40.000 người.

+ Bệnh binh: gần 185.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học: gần 312.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: gần 111.000 người.

+ Người có công giúp đỡ cách mạng: 1.897.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế: gần 4,1 triệu người.

- Hiện cả nước có trên 1,4 triệu người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; qua rà soát, cơ bản người có công đã được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Theo kết quả rà soát năm 2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong số 2.070.842 đối tượng được rà soát có 1.982.769 trường hợp (chiếm 95,75%) đã hưởng đủ chế độ; chỉ có 86.201 trường hợp, chiếm 4,16% kê khai là hưởng chưa đầy đủ; 1.872 trường hợp, chiếm 0,09% hưởng sai chính sách.

2. Phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng phát triển sâu rộng từ Trung ương đến địa phương và đã đạt được hiệu quả thiết thực, thể hiện tình cảm, trách nhiệm và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

- Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công bằng những việc làm thiết thực thông qua: Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sỹ già yếu cô đơn, con liệt sỹ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

 Từ năm 2007 đến năm 2017, cả nước đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” hơn 3.481 tỷ đồng, trong đó, quỹ Trung ương hơn 41,36 tỷ đồng, quỹ địa phương hơn 3.440,4 tỷ đồng; xây dựng gần 90.000 nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 75.000 nhà tình nghĩa với tổng trị giá gần 12.200 tỷ đồng; tặng gần 159.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá gần 955.000 tỷ đồng.

Thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, Chính phủ đã cấp cho các địa phương trên 2.450 tỷ đồng để hỗ trợ cho 80.000 hộ gia đình người có công khó khăn về nhà ở; 100% các mẹ Việt Nam anh hùng được các đơn vị nhận phụng dưỡng; 98% xã, phường làm tốt công tác Thương binh - Liệt sỹ, 97% người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân nơi cư trú.

- Bản thân thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, người có công với cách mạng cũng nỗ lực phấn đấu vươn lên trở thành những tấm gương tiêu biểu, điển hình nhân tố mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

3. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ được chú trọng và đạt được kết quả tích cực

- Đảng, Nhà nước và quân đội đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ. Nhà nước đầu tư nâng cấp các trung tâm giám định ADN của các bộ, ngành nhằm đẩy nhanh việc xác định danh tính hài cốt liệt sỹ.

- Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị đã tích cực trong việc phát hiện, quy tập mộ liệt sỹ và ghi danh, ghi công liệt sỹ.

- Công tác thông tin, tuyên truyền phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ đã tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân.

- Bằng phương pháp thực chứng, phương pháp giám định AND, các cơ quan chức năng đã quy tập, lấy mẫu hài cốt liệt sỹ, sinh phẩm thân nhân liệt sỹ, phân tích hàng chục nghìn trường hợp, góp phần phục vụ tích cực cho công tác tìm kiếm hài cốt liệt sỹ thời gian qua.

Thời gian qua, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được 939.462 hài cốt liệt sỹ; an táng tại 3077 nghĩa trang trong cả nước.

- Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ được các cấp, các ngành chú trọng và đã đạt được những kết quả cụ thể.

Hiện cả nước có 9.637 công trình ghi công liệt sỹ, bao gồm đài tưởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sỹ, nghĩa trang liệt sỹ. Nhiều công trình trở thành công trình văn hóa, có giá trị về mỹ thuật, giáo dục truyền thống: Nghĩa trang Điện Biên Phủ, Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sỹ Bến Dược, Khu tưởng niệm liệt sỹ thanh niên xung phong tại ngã ba Đồng Lộc; Truông Bồn, tỉnh Nghệ An...

III. Phát huy thành tựu đạt được, khắc phục hạn chế bất cập, tiếp tục đẩy mạnh công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng trong giai đoạn hiện nay 

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Thực hiện chính tốt chính sách chăm sóc người có công trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước; bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình trở lên”. Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ giải pháp sau:

- Các cấp, các ngành cần chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách ưu đãi khác về kinh tế - xã hội đối với người có công, đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho người có công và con em của họ; giúp đỡ thiết thực về vật chất và tinh thần đối với các đối tượng chính sách, nhất là đối tượng còn nhiều khó khăn để phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. Đồng thời, tiến hành rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các chính sách ưu đãi đối với người có công cho phù hợp với tình hình của đất nước. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch mọi chính sách về người có công.


- Làm tốt hơn công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sỹ và công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xác định danh tính liệt sỹ, thông báo và tạo điều kiện cho các gia đình người thân đến thăm viếng. Tiến hành sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong công tác thương binh, liệt sỹ và người có công; qua đó thúc đẩy các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", “Toàn dân chăm sóc người có công với nước” phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu và đem lại hiệu quả thiết thực; đồng thời biểu dương những tấm gương thương binh, bệnh binh và người có công tiêu biểu.


- Đẩy mạnh và thực hiện tốt việc lập, xét duyệt hồ sơ thường xuyên; tập trung giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận người có công còn tồn đọng, nhất là những hồ sơ đã được xác lập trong những giai đoạn trước đây nhưng chưa được xem xét giải quyết do chưa bảo đảm thủ tục, coi đây là nhiệm vụ quan trọng.


- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công tiếp tục phát huy ý chí tự lực tự cường, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và tham gia các hoạt động xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước với phương châm “Nhà nước, nhân dân và những người được hưởng chính sách ưu đãi cùng phấn đấu”.


- Đẩy mạnh tuyên truyền truyền thống yêu nước và đạo nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc và trân trọng tri ân công lao to lớn của các anh hùng - liệt sỹ và những người có công với nước; biến nhận thức và tình cảm tốt đẹp đó thành hành động thiết thực góp phần thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với cách mạng.


IV. Một số hoạt động chính trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ
1. Tổ chức Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sỹ quy mô cấp quốc gia vào ngày 27-7-2017 tại Thủ đô Hà Nội. Danh nghĩa tổ chức Lễ kỷ niệm: Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội do thành phố Hà Nội chủ trì.

2. Tổ chức Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu toàn quốc vào ngày 26-7-2017 tại thành phố Hà Nội. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì thực hiện.

3. Tổ chức cầu truyền hình (trực tiếp trên VTV1) tri ân các anh hùng liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng tại 5 điểm cầu Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Điện Biên và Thái Nguyên vào lúc 20h00’ ngày 27-7-2017. Đài Truyền hình Việt Nam chủ trì thực hiện.

4. Tổ chức lễ dâng hương và thắp nến tri ân các anh hùng liệt sỹ tại các nghĩa trang liệt sỹ trên toàn quốc vào lúc 20h00’ ngày 26-7-2017 do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện.

5. Tổ chức hoạt động tri ân liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam tại Lào và Campuchia vào trung tuần tháng 7-2017. Đại sứ quán Việt Nam tại Lào và Campuchia chủ trì thực hiện.

6. Tổ chức Lễ tưởng niệm các chiến sỹ hy sinh trong Nhà tù đế quốc tại các tỉnh, thành phố có nhà tù đế quốc.

7. Tổ chức kỷ niệm truyền thống 45 năm sự kiện Thành cổ Quảng Trị và chương trình nghệ thuật “Linh thiêng Thành cổ”. Hội Chiến sỹ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 chủ trì thực hiện.

8. Phát động vận động, xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Trung ương. Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt  Nam chủ trì thực hiện.


9. Xây dựng phim tài liệu kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ. Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương thực hiện.

10. Tổ chức liên hoan văn nghệ với chủ đề “Màu hoa đỏ” trong đoàn viên thanh niên; phát động phong trào mỗi đoàn viên thanh niên, mỗi cán bộ công chức ngành Lao động, Thương binh và Xã hội làm một việc tốt, giúp đỡ ít nhất 01 gia đình, 01 người có công với cách mạng nhằm tri ân các anh hùng liệt sỹ và người có công với cách mạng. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện.

11. Tổ chức cuộc thi sáng tác âm nhạc về đề tài Thương binh - Liệt sỹ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì thực hiện.

12. Phát động cuộc vận động sáng tác các thể loại truyện ngắn, truyện thơ, bút ký, hồi ký...; tổ chức bình chọn các tác phẩm văn học tôn vinh người có công với cách mạng. Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì thực hiện.

13. Tổ chức thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách và các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì thực hiện.

14. Tập trung rà soát, giải quyết hồ sơ còn tồn đọng sau chiến tranh, phấn đấu đến hết năm 2017 giải quyết căn bản đối với hồ sơ đề nghị công nhận liệt sỹ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng chủ trì thực hiện.

15. Tiếp tục triển khai việc hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, phấn đấu đến hết năm 2018 giải quyết dứt điểm việc hỗ trợ theo kết quả rà soát. Bộ Xây dựng chủ trì thực hiện.

16. Tiếp tục đẩy mạnh công tác rà phá bom mìn; tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, đồng thời đẩy nhanh tiến độ xác định danh tính hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin. Bộ Quốc phòng chủ trì thực hiện.

17. Tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về ưu đãi người có công với cách mạng; gương điển hình người tốt việc tốt trong công tác người có công với cách mạng; người có công vượt khó vươn lên làm kinh tế giỏi; các tập thể, đơn vị, xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì thực hiện.

Ban Tuyên giáo Trung ương




No automatic alt text available.