Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Tổ chức lễ viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp


(hình từ facebook do gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp lập)

Mấy ngày nay, thông qua các phương tiện thông tin, ai ai trong chúng ta cũng biết tin về đám tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Những hình ảnh và tin tức nổi bật nhất không phải là vụ án nghiêm trọng ở đâu, người đẹp làm gì, ca sĩ khoe xe gì, hay là giá điện tăng, hoặc xả lũ một cách vô cảm, mà nổi bật hơn hết là hình ảnh và tin tức về những dòng người xếp hàng dài chờ viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 


Nhằm bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc, niềm tiếc thương vô hạn của Đảng ủy, Ban Giáp đốc cấp ủy, chỉ huy các khoa, ban và cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Bệnh viện 7A trong tổ chức lễ viếng, tiễn đưa hương hồn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời thể hiện tốt đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc, bệnh viện 7A tổ chức lễ viếng với nội dung cụ thể như sau:

STT NỘI DUNG NGƯỜI PHỤ TRÁCH
1 Thông báo chương trình Lễ viếng Đại tướng Vũ Công Huấn
2 Tuyên bố lý do, giới thiệu Đại biểu Vũ Công Huấn
3 - Thông báo danh sách Ban Lễ tang Nhà nước,
thông báo về lễ viếng, lễ truy điệu. Tóm tắt tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Chính ủy
- Một phút mặc niệm
4 Đại diện Sĩ quan trẻ phát biểu hứa hẹn trước
 anh linh Đại tướng
Đ/c Nam (K.Dược)
5 Điều hành thứ tự từng người vào viếng Vũ Công Huấn
6 Kết thúc lễ viếng Vũ Công Huấn

Thời gian: 
- Tổ chức lễ viếng: Đúng 07g00 ngày 12/10/2013 (tại Hội trường A)
- Dự theo dõi lễ truy điệu: Từ 07g00 ngày 13/10/2013 (tại các khoa, ban)

Trang phục:
- Sĩ quan, QNCN: Tiểu lễ phục mùa đông
- HSQ-CS: Quân phục K08
- CNVCQP và Lao động hợp đồng: Đồng phục Bệnh viện




Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Đề cương ôn tập kiểm tra chính trị năm 2013

CÂU HỎI, ĐÁP ÁN KIỂM TRA VẤN ĐÁP
CHÍNH TRỊ NĂM 2013

Câu 1. Sự cần thiết tiếp tục quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới? Liên hệ trách nhiệm theo cương vị chức trách được giao?
1.      Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ tổ quốc XHCN:
-         Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin
+ Bảo vệ tổ quốc XHCN là một tất yếu khách quan.
+ Bảo vệ tổ quốc XHCN là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân tộc, của toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên cơ sở liên minh công nông vững chắc.
+ Để bảo vệ tổ quốc XHCN phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng một quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản chính quy, hiện đại trên cơ sở vũ trang toàn dân.
+ Bảo vệ tổ quốc XHCN bằng mọi  biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, phân biệt rõ bạn – thù, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, liên minh, thỏa hiệp, kết hợp đúng đắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân.
+ Toàn bộ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc XHCN phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
-         Tư tưởng TP. HCM:
+ HCM coi BVTQ là nhiệm vụ thiêng liêng của các thế hệ người VN: Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.
+ Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc tổ quốc là tư tưởng xuyên xuốt của HCM: “Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
+ HCM luôn nhất quán quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp trong nhiệm vụ BVTQ XHCN.
+ Theo HCM, sự nghiệp BVTQ XHCN phải do đảng lãnh đạo.
2.      Xuất phát một số kết quả, hạn chế qua 10 năm thực hiện Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.
3.      Xuất phát từ tình hình mới tác động đến nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.

Câu 2. Quan điểm cơ bản của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới? Liên hệ trách nhiệm theo cương vị chức trách được giao?
1.      Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp BVTQ.
2.      Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc.
3.      Kết hợp chặt chẽ 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
4.      Xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội, văn hóa, quốc phòng – an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh.
5.      Ra sức phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa và khai thác mọi thuận lợi ở bên ngoài.
6.      Chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố gây mất ổn định từ bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi.

 


Câu 3. Yêu cầu, nội dung, biện pháp chủ yếu học tập, làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên”. Liên hệ trách nhiệm bản thân?
1.      Yêu cầu:
Thứ nhất: Người chỉ huy, người chính ủy, chính trị viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng.
Thứ hai: Người chỉ huy, người chính ủy, chính trị viên phải có tư cách đạo đức trong sáng, mẫu mực.
Thứ ba: Người chỉ huy, người chính ủy, chính trị viên phải có kiến thức năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo cương vị, chức trách.
Thứ tư: Người chỉ huy, người chính ủy, chính trị viên phải có phương pháp làm việc khoa học, tác phong dân chủ, sát với bộ đội, thực sự là tấm gương sáng trong học tập, rèn luyện và công tác, nói đi đôi với làm.
2.      Nội dung, biện pháp:
-         Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi đối tượng, nhất là người chỉ huy, người chính ủy, chính trị viên luôn nhận thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm của mình, thực sự là người anh, người chị, người bạn thân thiết, tin cậy của bộ đội.
-         Giữ vững nguyên tắc, cơ chế lãnh đạo quân đội, chăm lo xây dựng tổ chức đảng TSVM, thực hiện tốt chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội.
-         Nâng cao phẩm chất, năng lực toàn diện của đội ngũ cán bộ, nhất là năng lực quản lý, chỉ huy, giáo dục thuyết phục bộ đội.
-         Phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, giải quyết tốt mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sỹ, đấu tranh chống những biểu hiện sai trái tiêu cực.




Câu 4. Nội dung phong cách qun chúng, dân chủ, nêu gương trong tư tưởng Hồ Chí Minh? Liên hệ trách nhiệm bản thân?
1.      Phong cách quần chúng:
-         HCM yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và bản thân Người là tấm gương sáng về phong cách gần dân.
-         HCM yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải đi đúng đường lối quần chúng, đồng thời bản thân Người luôn nêu cao tấm gương về lòng yêu mến và tin tưởng vào khả năng, sức mạnh của nhân dân.
-         Cán bộ, đảng viên phải biết phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân.
-         HCM thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, phê phán tệ xa rời quần chúng.
2.      Phong cách dân chủ:
-         Mỗi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể.
-         Phải mở rộng dân chủ để phát huy sức mạnh của tập thể.
-         Nhận trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc TTDC, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
3.      Phong cách nêu gương:
-         Cần nêu gương trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc.
-         Muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm, và HCM là tấm gương mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo.
-         Để giáo dục bằng nêu gương HCM chủ trương: Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.



Câu 5. Nội dung nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp? Liên hệ trách nhiệm bản thân?
Một là, trong mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò độc lập, tự chủ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, lấy lợi ích của Đảng, của nhân dân làm cơ sở cho hoạt động của mình.
Hai là, cán bộ, đảng viên phải luôn gần dân, sâu sát với dân, nắm bắt được nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Ba là, cán bộ, đảng viên phải rèn luyện, điều chỉnh cách nói, cách viết, cách làm việc, cách lãnh đạo cho phù hợp, biết phát huy vai trò của dân để làm lợi cho dân.
Bốn là, quá trình xây dựng và thực hiện mọi kế hoạch công tác, cán bộ, đảng viên phải điều tra, nghiên cứu cụ thể, tỉ mỉ, phải động viên và phát huy được mọi tiềm năng, sức mạnh của quần chúng.
Năm là, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn gương mẫu trong công tác cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.

Câu 6. Sự cần thiết phải ban hành Luật Biển Việt Nam? Quan điểm và nguyên tắc xây dựng Luật Biển Việt Nam? Liên hệ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và bản thân?
1.      Sự cần thiết phải ban hành Luật Biển Việt Nam:
1.1             Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài trên 3.260km với hàng nghìn hòn đảo, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các quần đảo khác và vùng biển rộng lớn. Biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc VN XHCN, giữ vị trí quan trọng đối với phát triển KTXH, AN-QP của đất nước, do đó đòi hỏi phải có quy định pháp luật tương xứng để điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực này.
1.2             Năm 1994, Quốc hội nước ta đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, đưa VN chính thức trở thành thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982. Trong Công ước này, Nhà nước VN khẳng định sẽ thực hiện đầy đủ quy định của Công ước và từng bước hoàn thiện các quy định pháp luật quốc gia để phù hợp với các quy định của Công ước.
1.3             Thực tế trên thế giới các quốc gia ven biển đều có các luật về biển, luật về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa …. Trong khi đó VN mới chỉ có một số văn bản pháp luật đề cập đến một số khía cạnh cụ thể có liên quan đến biển. Mặt khác, để vận dụng hiệu quả những nguyên tắc, quy định trong Công ước về Luật Biển năm 1982 của LHQ, chúng ta cần xây dựng một văn bản pháp luật tổng quát về biển có giá trị pháp lý cao.
2.      Quan điểm và nguyên tắc xây dựng Luật Biển Việt Nam:
Việc xây dựng Luật Biển Việt Nam dựa trên các quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc cơ bản sau:
2.1             Tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý cơ bản, có hiệu lực cao trong việc xác định phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển Việt Nam, nhằm bảo vệ và thực hiện chủ quyền, các quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn trên biển, phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ quốc tế trên các vùng biển Việt Nam, tạo môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực.
2.2              Bảo đảm tính thống nhất và phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật quốc tế về biển.
2.3              Thể chế hóa và cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ đất nước và phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong việc quản lý và phát triển các vùng biển trong tình hình mới.
Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết số 09 – NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh “Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương”, đồng thời xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 như sau:
Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng – an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
2.4              Quá trình xây dựng Luật phải thực hiện nội luật hóa các quy định cơ bản của Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp quốc.

Câu 7. Mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp tiến hành công tác dân vận trong tình hình mới? Liên hệ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và bản thân?
1.      Mục tiêu: Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và BVTQ, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH dất nước.
2.      Quan điểm:
2.1.           Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ.
2.2.           Về lợi ích:
Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ của công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh.
2.3.           Về phương thức lãnh đạo công tác dân vận:
Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Mọi quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng, noi theo.
2.4.           Về trách nhiệm đối với công tác dân vận:
Công tác dân vận là trách  nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ LLVT. Trong đó Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, mặt trận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt.
2.5.           Về các hình thức công tác dân vận:
Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thành quy chế, quy định để các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sỹ LLVT thực hiện công tác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học và hiệu quả.




KH - Kiểm tra nhận thức chính trị năm 2013


Khu KTC nhận Kế hoạch số 86/KH-BV7A về Kiểm tra chính trị cho cán bộ, chiến sỹ, CNVQP của Bệnh viện 7A năm 2013 của Bệnh viện và triển khai thực hiện như sau:

1. Nội dung kiểm tra:
Câu 1. Sự cần thiết tiếp tục quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới? Liên hệ trách nhiệm theo cương vị chức trách được giao?
Câu 2. Quan điểm cơ bản của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới? Liên hệ trách nhiệm theo cương vị chức trách được giao?
Câu 3. Những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục quán triệt, thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới? Liên hệ trách nhiệm bản thân?
Câu 4. Nội dung và cơ sở của Tư tưởng Hồ Chí Minh về “người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên”? Liên hệ trách nhiệm bản thân?
Câu 5. Yêu cầu, nội dung, biện pháp chủ yếu học tập, làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “người đội trưởng, người chính trị viên phải là người anh, người chị, người bạn của đội viên”. Liên hệ trách nhiệm bản thân?
Câu 6. Nội dung phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương trong tư tưởng Hồ Chí Minh? Liên hệ trách nhiệm bản thân?
Câu 7. Nội dung nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp? Liên hệ trách nhiệm bản thân?
Câu 8. Sự cần thiết phải ban hành Luật Biển Việt Nam? Quan điểm và nguyên tắc xây dựng Luật Biển Việt Nam? Liên hệ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và bản thân?
Câu 9. Sự cần thiết phải ban hành Luật phổ biến, giáo dục Pháp luật? Quan điểm và nguyên tắc xây dựng Luật phổ biến, giáo dục Pháp luật? Liên hệ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và bản thân?
Câu 10. Mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp tiến hành công tác dân vận trong tình hình mới? Liên hệ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và bản thân?
Câu 11. Nội dung, biện pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động thu thập bí mật Nhà nước, bí mật Quân sự của các thế lực phản động, thù địch? Trách nhiệm của LLVT Quân khu? Liên hệ trách nhiệm bản thân?

2. Phương pháp
        Mỗi nhân viên tự chọn 01 trong 11 câu hỏi, viết tay trên khổ giấy A4, bài viết không quá 04 trang; không nhờ người khác viết hộ.
Liên hệ trách nhiệm gắn với việc kiểm điểm, phê bình và tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết TW4 (khóa XI); Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

3. Thời gian và địa điểm:
- Thời gian: Thứ Bảy ngày 05/10/2013
Buổi sáng: Từ 09g00 đến 11g00; buổi chiều: Từ 14g30 – 16g30
- Địa điểm: Hội trường A  

4. Đối tượng kiểm tra:
- Nhân viên lao động hợp đồng (có danh sách đính kèm).

5. Phương pháp tổ chức thi kiểm tra nhận thức:
- Chia làm 02 đợt thi, tập trung tại Hội trường A.
- Thời gian viết bài 120 phút.
- Sau khi làm bài xong, ban tổ chức sẽ niêm phong và gửi Ban Chính trị chấm bài.





Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Đọc báo - Nghiên cứu khoa học từ cái tâm của người thầy thuốc

Bài báo 'không cũ lắm' về Giám đốc mới của Bệnh viện 7A
 ***********************************************


Nghiên cứu khoa học từ cái tâm của người thầy thuốc

QKQD - Thứ Ba, 14/05/2013, 17:44 (GMT+7)
Thượng tá Bác sĩ Lê Quang Trí
Nghiên cứu khoa học là giấc mơ, là khát vọng vì người bệnh, những đề tài gai góc làm ngao ngán nhiều người nhưng anh lại lao vào nghiên cứu vì người bệnh, cái “Tâm” của người thầy thuốc đặt trên chuyện sinh tử của bệnh nhân, anh là niềm tin yêu của đồng nghiệp và sự trông đợi của người bệnh. Câu chuyện của Thượng tá Bác sĩ Lê Quang Trí, Phó giám đốc kiêm Trưởng khoa khám điều trị ngoại Bệnh viện Quân dân miền Đông là một điển hình.
Tấm lòng vì người bệnh
Muốn gặp anh để trao đổi nhiều, nhưng lần nào anh cũng chỉ dành vỏn vẹn cho tôi mười phút, đó là quỹ thời gian ít ỏi trong lúc giao ca để chuẩn bị cho ca mỗ tiếp theo. Thời gian của anh là vậy! lúc nào cũng bận bịu, tất bật. Tôi hiểu được điều đó, bởi người bệnh đang chờ anh, họ cần đôi bàn tay mềm mại và cái đầu tỉnh táo của anh để gắn kết vận mệnh con người giữa sống và chết. Tôi đành lượm lặt ở những người đồng đội, đồng nghiệp để viết về anh.
Anh Lê Quang Trí, sinh ra và lớn lên ở xã Phước Lộc, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau khi tốt nghiệp Bác sĩ quân y năm 1992 về đơn vị công tác, mặc dù gặp khó khăn rất nhiều về cơ sở vật chất, về điều kiện làm việc, bên cạnh sự chật vật về kinh tế của gia đình. Trong khi đó Khoa chấn thương chỉnh hình – Thần kinh – Bỏng (B1) hằng năm phải đối mặt hơn 30.000 người bệnh, thu dung điều trị trên 1500 người/năm, tỷ lệ sử dụng giường bệnh lên đến 221,5%. Sự sơ suất, hay kém hiểu biết, thiếu trách nhiệm của bác sĩ sẽ làm người bệnh tử vong, hoặc mang di chứng suốt đời. Những nỗ lực vì người bệnh là trên hết không thể làm ngơ với những ca bệnh đòi hỏi có chuyên môn kỹ thuật cao “Học ở trường chưa đủ tôi lao vào tự học và nghiên cứu. Cứ nghĩ đến người bệnh quằn quại đau đớn như có ma lực thu hút tôi. Miệt mài, tìm tòi nghiên cứu như bản chất nông dân vốn có trong tôi, chịu khổ chịu khó trong mọi điều kiện miễn cho ra kết quả tốt nhất là được” như lời anh tâm sự. Được biết, riêng anh hằng năm phải phẫu thuật cho gần 2000 lượt người bệnh, trong đó phẫu thuật kỹ thuật cao như: thay khớp gối, thay khớp háng, nội soi tái tạo dây chằng khớp gối, khớp vai, vi phẫu thuật nối mạch máu, nối chi cứu sống và giữ lại bàn tay lao động cho người bệnh, phẫu thuật làm cứng cột sống trong điều trị bệnh lý cột sống và lấy nhân đệm trong thoát vị đĩa đệm, phẫu thuật kết hợp xương kỹ thuật cao. Trong hoàn cảnh bệnh viện còn thiếu về cơ sở vật chất và một số trang thiết bị hiện đại khác, cơ sở hạ tầng xuống cấp anh và đồng nghiệp phải tìm cách khắc phục, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm tiêu hao, động viên nhau chăm sóc và điều trị tích cực, đạt hiệu quả cao nhất cho người bệnh, được nhân dân và đồng nghiệp tin yêu.
Những thành công ban đầu
Trong nghiên cứu khoa học, một số nghiên cứu anh đã công bố trên các tạp chí trong nước và đã tìm cho mình một hướng đi riêng cho 5 đề tài khoa học tại bệnh viện và sáng kiến khoa học “Khung cố định ngoài vùng mấu chuyển xương đùi”, đề tài này ấp ủ hơn 10 năm nghiên cứu và đã ứng dụng giúp cho những người bệnh già yếu không may bị té ngã gãy xương vùng mấu chuyển xương đùi, có thể phục hồi sự vận động của mình, nếu không có sự can thiệp của khung cố định ngoài thì tỷ lệ tử vong của những người bệnh này là hơn 30%, và tỷ lệ tàn tật là hơn 50%. Trong nghiên cứu của anh hiện nay, tỷ lệ tử vong là 1 -2% và tỷ lệ tàn tật là 6%. Sáng kiến thứ hai “Bàn phẫu thuật tư thế ngồi thư giãn”. Đặc biệt 2 sáng kiến khoa học của anh đã làm lợi cho bệnh viện hàng trăm triệu đồng, được Bộ Tư lệnh quân khu tặng bằng khen về thành tích trong nghiên cứu khoa học và sáng kiến cải tiến kỹ thuật năm 2008, đạt 2 giải nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật quân khu 7 lần thứ nhất 2009 “Khung cố định ngoài vùng mấu chuyển xương đùi” và lần thứ hai năm 2011“Bàn phẫu thuật tư thế ngồi thư giãn”.
Anh tiếp tục lặng lẽ nghiên cứu và học tập nâng cao. Năm 2000: hoàn thành chương trình Chuyên khoa cấp I. Năm 2006: hoàn thành chương trình Chuyên khoa cấp II và bắt đầu chương trình Nghiên cứu sinh từ năm 2009. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên tại bệnh viện, anh còn tham gia phẫu thuật ở các bệnh viện bạn trong và ngoài quân đội. Anh được mời đích danh tham dự các chương trình hội thảo chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình tại Mỹ, Đức, Thái Lan, Malaysia, Pháp, Hàn Quốc; được tham gia học tập và làm việc với đồng nghiệp nước ngoài và nhận được những sự khích lệ quý giá. Thành công từ những nghiên cứu khoa học với “tấm lòng vì người bệnh” anh đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú năm 2010; Bộ Quốc phòng tặng bằng khen 2010; Bộ Y tế tặng bằng khen (giai đoạn 2006-2010); Danh hiệu chiến sỹ thi đua 05 năm liền (2008, 2009, 2010, 2011, 2012).
Bên cạnh đó là bác sĩ có chuyên môn giỏi anh còn là Đảng viên gương mẫu, đảm nhiệm tốt công tác quản lý, chỉ huy trong bệnh viện trên cương vị Phó giám đốc và trưởng khoa Khám và điều trị ngoại. Với những dự định mở rộng đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ điều trị chấn thương chỉnh hình, hy vọng vì cái “Tâm” của người thầy thuốc anh sẽ gặt hái được nhiều thành công, đem lại niềm vui cho người bệnh.
Trần Rô



Đọc báo - Hiệu quả sau một năm hoạt động




QKQD - Thứ Năm, 29/08/2013, 19:18 (GMT+7)

Trước tình trạng “quá tải” tại các bệnh viện ở TPHCM đang gây nhiều vất vả cho bệnh nhân, tháng 8-2012, Cục Hậu cần Quân khu 7 đã quyết định thành lập Khu chuẩn đoán điều trị kỹ thuật cao thuộc Bệnh viện 7A (BV 7A) ở số 83 An Dương Vương, phường 8, quận 5. Chỉ 1 năm đi vào hoạt động, những người lính mặc áo blouse trắng ở Khu kỹ thuật cao BV 7A thuộc QK7 đã gặt hái nhiều kết quả đáng mừng…
Đại tá, bác sĩ Nguyễn Thị Minh Phương, Giám đốc Bệnh viện 7A trao giấy khen cho những cá nhân tiêu biểu của Khu Kỹ thuật cao sau 1 năm hoạt động
Thượng tá, bác sĩ Trương Hoàng Việt, Trưởng ban điều hành Khu Kỹ thuật cao của BV 7A báo tin vui: “Sau 1 năm chính thức hoạt động, bình quân mỗi tháng đội ngũ y, bác sĩ Khu kỹ thuật cao đã khám và điều trị bệnh cho gần 2.000 lượt bà mẹ, 1.200 lượt trẻ em và hàng ngàn lượt bệnh nhân khác, góp phần giảm tải bệnh nhân cho các bệnh viện lớn tại TP”. Khi thành lập Khu khám chữa bệnh kỹ thuật cao, Ban Giám đốc BV 7A liền phân công các cán bộ sĩ quan đồng thời là bác sĩ quân y chủ chốt của các khoa sang điều hành công việc, phối hợp với các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ cao cấp của các bệnh viện như: Bệnh viện 175, Chợ Rẫy, Chấn thương chỉnh hình TP, Hùng Vương, Nhi Đồng, Mắt, Đại học Y Dược và 150 y bác sĩ ở 50 phòng khám vệ tinh của BV 7A cùng khám chữa bệnh cho bệnh nhân nhằm đạt kết quả tốt nhất, mang lại sức khỏe cho người dân.
Nhờ có “bộ đội vào cuộc” mà đa số bệnh nhân đến đây chữa bệnh đều rất tâm đắc về thái độ phục vụ nhiệt tình tận tâm của đội ngũ y bác sĩ. Vui hơn là chi phí khám chữa bệnh cũng rẻ hơn, giá thuốc lại thấp hơn nơi khác và thời gian chờ đợi cũng giảm nhiều. Bà Nguyễn Thị Bé, hơn 70 tuổi, quê ở Long An bị một khối u rất lớn, đi nhiều bệnh viện khác chạy chữa đều bị “bác sĩ chê”. Rất may người nhà đưa bà đến Khu kỹ thuật cao BV 7A thì được các bác sĩ điều trị cắt bỏ khối u bằng phương pháp mới với kỹ thuật cao. Đến nay bà đã lành bệnh và không khỏi xúc động: “Nhờ có các bác sĩ quân y cứu chữa mà tôi thoát chết. Tôi từng sống qua hai mùa kháng chiến nên luôn thấm thía một điều: bộ đội bao giờ cũng luôn hết lòng vì dân…”. Tiếng lành đồn xa, giờ đây ngày càng có nhiều bệnh nhân từ các tỉnh miền Tây, miền Trung và cả nước tìm đến đây chữa bệnh, đặc biệt là người dân ở 9 tỉnh miền Đông trên địa bàn QK7 đã xem BV 7A là thương hiệu thân quen. Có không ít bệnh nhân khăng khăng đòi ở lại BV 7A chữa bệnh vì họ đã gửi trọn niềm tin vào các bác sĩ quân y ở đây. Chị Nguyễn Thị Ngọc Thu, 31 tuổi, sau khi sinh bị mất máu nghiêm trọng có nguy cơ phải cắt bỏ tử cung, nhưng khi đến đây chị được các bác sĩ dùng phương pháp cầm máu kỹ thuật cao và đã điều trị thành công. Giờ đây sức khỏe của chị dần hồi phục, chị tâm sự: “Sức khỏe của tôi hồi phục thật ngoài sức tưởng tượng của cả gia đình, tôi không sao nói hết lòng biết ơn các bác sĩ quân y…”.  
Trước đây, bệnh nhân đến với BV 7A chỉ toàn là bộ đội, nay có cả người già, bà mẹ, trẻ em và dân thường nên đã tạo ra không khí mới mẻ, thắm đượm tình quân dân, chẳng thế mà bà con cứ tấm tắc: “Những người lính Cụ Hồ vừa chắc tay súng bảo vệ quê hương, vừa cao tay nghề trong khám và điều trị bệnh cứu người, giúp dân. Ơn bộ đội nhiều lắm…”. Tại phòng khám cho các bệnh nhi, bác sĩ Lê Thị Thanh Hương, nguyên Trưởng khoa sơ sinh BV Nhi Đồng 1 đang cùng ê kíp khám chữa bệnh làm việc không ngừng tay, người thì khám, kê toa thuốc, người thì chích ngừa cho các cháu, nghe tiếng trẻ rộn rã mà thấy mầm sống đang vươn lên mạnh mẽ. Tại phòng phụ sản, bác sĩ Nguyễn Thị Thùy, nguyên Giám đốc Bệnh viện Hùng Vương cũng đang chuẩn bị cho một ca sanh mổ. Nhận xét về kết quả đạt được, đại tá Nguyễn Thị Minh Phương, Giám đốc BV 7A khẳng định: “Ở bất cứ lĩnh vực nào dù khó khăn gian khổ đến mấy, phẩm chất bộ đội Cụ Hồ vẫn luôn tỏa sáng. Trong ngành y, các chiến sĩ quân y BV 7A lại cứu người bằng tất cả tấm lòng. Hàng năm có nhiều y bác sĩ của BV 7A đã xung phong ra Trường Sa bảo vệ sức khỏe cho bộ đội và ngư dân trên biển. Một lần nữa, trên lĩnh vực y tế, các chiến sĩ quân y thật xứng danh bộ đội Cụ Hồ… ”. .
TÙNG LÂM   

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

TB 05 - Tặng học bổng 2012 - 2013


BỆNH VIỆN 7A
KHU KỸ THUẬT CAO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đôc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc
Số: 05 /TB-KTC
TP Hồ Chí Minh, ngày 06  tháng 8 năm 2013

THÔNG BÁO
V/v tặng học bổng cho con nhân viên năm học 2012 - 2013


Nhằm hỗ trợ một phần tài chánh cho nhân viên có con đang đi học, BĐH Khu Kỹ thuật cao sẽ xét tặng học bổng cho các cháu với các tiêu chuẩn như sau:

I.                   Đối tượng và điều kiện được nhận học bổng:
- Con của nhận viên làm việc toàn thời gian (cơ hữu)
- Đang học cấp I, cấp II, cấp III, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học tại Việt Nam.
- Học lực năm học 2012-2013:
+ Đạt GIỎI đối với học sinh cấp I & cấp II
+ Đạt KHÁ đối với học sinh cấp III
+ Điểm trung bình cả năm học trên 7,00 đối với sinh viên THCN, CĐ, ĐH

II.               Trị giá học bổng:
- Cấp I & cấp II:                1.000.000 đ
- Cấp III:                 1.500.000 đ
- THCN, CĐ, ĐH: 2.000.000 đ

III.            Thời gian xét duyệt:
      - Nộp hồ sơ về phòng Hành chánh, gồm đơn đề nghị cấp học bổng (theo mẫu), và giấy khen hoặc phiếu điểm (photo) trước ngày 16/8/2013.
 - BĐH xét duyệt từ 17 – 29/8/2013.

IV.             Thời gian tổ chức lễ trao học bổng:
Sáng thứ Bảy ngày 31/8/2013 tại Hội trường A



Nơi nhận:
-Các bộ phận;
-Lưu: BĐH,V10.
Trưởng ban ĐH

 (đã ký)

BS Trương Hoàng Việt